“Mục đích của luật vận  động hành lang của chúng ta là thông báo cho công chúng biết ai được chi trả bao nhiêu, để vận động ai, về vấn đề gì. Hiện tại, mục đích này vẫn chưa được đáp ứng”

(Sen),Carl Levin, phê bình Dự thảo Đạo luật Liên bang về

hoạt động vận động hành lang (lobby) (1992)[1]

 

Sau vài thập kỷ nỗ lực lập pháp và công khai hoá hoạt động vận động hành lang (lobby) chính quyền liên bang Mỹ một cách hiệu quả hơn, đạo luật về công khai hoá hoạt động vận động hành lang (LDA) năm 1995 đã được thông qua . Trước khi luật này ra đời đã có luật về hoạt động lobby, đặc biệt nhất là Luật Liên bang về Hoạt động Lobby năm 1946, nhưng nó bị lỗi thời ngay sau khi được thông qua.

 

Cũng tương tự như thế, sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động vận động hành lang tại trụ sở Quốc hội Mỹ kết hợp với nhiều sửa đổi chưa hoàn chỉnh từ cách đây một thập kỷ đòi hỏi  Quốc hội Hoa kỳ phải xây dựng một phạm vi mới về những sửa đổi liên quan tới hoạt động lobby.

 

“Hoạt động vận động hành lang” (“Lobbying”) là một quá trình kiến nghị tới chính quyền để gây ảnh hưởng tới chính sách . Quyền vận động hành lang là một trong những quyền thịnh vượng nhất  của một nền  dân chủ. Cụ thể là  Đại Hiến chương nước Anh (do vua Giôn ban hành năm 1215), quyền kiến nghị lên chính quyền được phê chuẩn nhiều lần trong luận thuyết về thuộc địa Mỹ, trong Tuyên Ngôn Độc Lập và trong các hiến pháp của bang và Liên bang Mỹ thời kỳ hậu cách mạng, bao gồm cả Bản Tuyên ngôn Nhân quyền[2]. Trong thời kỳ là thuộc địa của Anh, những đơn được đệ trình tới các chính quyền địa phương thường đơn giản và ngắn gọn, hầu như là luôn được phúc đáp[3].

 

Những ngày mà công dân Mỹ kiến nghị một cách có hiệu quả lên chính quyền những khiếu nại của họ đã kết thúc từ lâu. Các chính quyền bang và chính quyền Liên bang phải xử lý một khối lượng lớn các vấn đề kinh tế và chính trị phức tạp, họ chỉ có một giới hạn thời gian cho việc tiếp xúc trực tiếp cử tri, và cũng do đó mà xuất hiện những tập đoàn, những công ty lobby chuyên nghiệp. Những nhóm này tác động tới quyền kiến nghị bằng sức mạnh về nguồn lực kinh tế, hay hệ thống chính trị nhằm thu hút sự quan tâm chú ý của những nhà cầm quyền. Hiện nay, nói chung, quyền khiếu nại mang tính truyền thống ở cấp bang và cấp Liên bang đã trở thành một lĩnh vực hoạt động rộng lớn của các chuyên gia lobby[4].

 

Sự gia tăng các nhà hoạt động lobby đồng nghĩa với một sự tập trung lớn quyền lực của chính phủ vào tay một số ít cán bộ, điều này còn là một nguy hiểm tiềm tàng. Sự tập trung quyền lực này, đến lượt nó lại thật sự cần thiết hơn bao giờ hết cho các nhà lập pháp cũng như dân chúng để biết ai là người đang chi trả bao nhiêu cho các nhà hoạt động lobby để vận động ai về cái gì. Các nhà lập pháp cần thông tin này để đánh giá một cách chính xác áp lực chính trị mà họ phải chịu. Dân chúng cần thông tin này để đánh giá tính liêm chính của những nhà lập pháp.

 

Những nỗ lực ban đầu cho đạo luật Liên bang về Hoạt động Lobby

 

Những nỗ lực đầu tiên nhằm điều chỉnh hoạt động lobby ở cấp liên bang được thực hiện vào năm 1876, khi Hạ viện quốc hội Mỹ phê chuẩn một nghị quyết, chỉ áp dụng cho kỳ họp quốc hội đó, yêu cầu các nhà lobby phải đăng ký với Thư ký Quốc hội[5]. Tới tận những năm cuối thế kỷ 19  một số bang cũng còn thực hiện việc này và thậm chí còn luận tội các hoạt động lobby[6]. Nhưng không nỗ lực nào được ban hành thành quy định hoặc đạo luật một cách có hệ thống.

 

Vào những năm 1930, Thượng nghị sỹ Hugo Black  bang Alabama lãnh đạo một cuộc đấu tranh chống lại việc hối lộ hoạt động lobby ở bang Washington. Black chủ trương rằng các nhà hoạt động lobby phải đăng ký tên, công khai tiền lương, chi tiêu hàng tháng và mục đích các hoạt động lobby của của họ. Mối quan tâm của ông bị bỏ ngoài tai, mãi tới mùa xuân năm 1935, khi các nhà hoạt động lobby cho một hiệp hội các công ty cổ phần mẹ về dịch vụ công cố ngăn cản việc thông qua một dự luật (dự luật này sẽ chia các công ty cổ phần mẹ thành những cổ phần nhỏ hơn). Các nhà lobby nỗ lực phối hợp với nhau bằng việc gửi tới Quốc hội Hoa Kỳ hàng trăm bức điện tín yêu cầu các thượng nghị sỹ bỏ phiếu chống lại dự luật này. Black đã tổ chức một trưng cầu ý kiến và góp ý tại Quốc hội về nguồn gốc những bức điện tín  và phát hiện ra rằng các nhà hoạt động lobby đã mạo nhận các cử tri bằng việc đọc cho viết hàng trăm bức điện tín cùng một loại gửi tới các đối tác của Western Union.  

 

Kết quả của cuộc điều tra là Đạo luật về Công ty Cổ phần mẹ về Dịch vụ công đã được sửa đổi, luật này yêu cầu tất cả các đại diện của các công ty phải có đăng ký. Black cũng đưa ra một tiêu chuẩn đánh giá nhằm yêu cầu tất cả các nhà vận động hành lang nói chung phải có sự đăng ký, nhưng dự luật này đã không trở thành luật. Tuy vậy Quốc hội Mỹ đã bày tỏ sự quan tâm tới dự luật này bằng việc bổ sung một số điều khoản đặc biệt về việc đăng ký của các nhà hoạt động lobby trong một số ngành – có luật cụ thể, chẳng hạn như Đạo luật về Hải thương gia năm 1936.

 

Mãi tới Đại chiến thế giới thứ 2, , Quốc hội Hoa Kỳ đã thiết lập quy định có tính hệ thống và toàn diện về hoạt động lobby. Sự điều chỉnh này dẫn tới hai đạo luật liên bang rất khác nhau: Đạo luật Đăng ký đại diện nước ngoài (FARA) năm 1938 và Đạo luật liên bang về hoạt động lobby năm 1946.

 

 

  1. Đạo luật đăng ký đại diện nước ngoài năm 1938

 

Đạo luật đăng ký đại diện cho nước ngoài (FARA) là cố gắng ban đầu về việc điều chỉnh toàn diện ở cấp liên bang về hoạt động lobby. Mục đích ban đầu của FARA là nhằm hạn chế ảnh hưởng của các đại diện nước ngoài và các tổ chức tuyên truyền đến các chính sách của người Mỹ. Nó phát sinh từ việc hưởng ứng phong trào tuyên truyền do Adolph Hitler phát động nhằm cổ động  phong trào quốc xã ở Hoa Kỳ. Mặc dù không có chứng cớ rõ ràng, tổng thống Franklin Roosevelt và nhiều thành viên quốc hội cho rằng Hitler đang trợ giúp tài chính cho phong trào quốc xã tại Mỹ.

 

Việc ban hành luật FARA trong giai đoạn nguy kịch bùng nổ chiến tranh thế giới thứ 2 là kết quả đề xuất của một uỷ ban đặc biệt Quốc hội Hoa Kỳ (được biết tới là uỷ ban McCormack), nhằm điều tra “Các hoạt động phi Mỹ” tại Hoa Kỳ. Luật này ban đầu tập trung vào phong trào quốc xã. Thực tế, từ “foreign propaganda” (tuyên truyền nước ngoài) trong luật là tên một điều khoản, ban đầu nó có tên là “Nazi propaganda” (tuyên truyền quốc xã)[7]. Nhưng sau đó nó được mở rộng ra bao gồm cả những vấn đề liên quan tới tuyên truyền tiền cộng sản.

 

FARA tập trung hoàn toàn vào việc công khai hoá hoạt động vận động hành lang hơn là các quy tắc, luật lệ về hoạt động lobby. Nó được định nghĩa như một “đại diện nước ngoài” đối với bất cứ  cá nhân nào hoạt động như một nhà vận động hành lang, đại biểu quan hệ công chúng hay người thụ uỷ cho một người uỷ nhiệm nước ngoài hay bất kỳ một tổ chức trong nước (Mỹ) được một người uỷ nhiệm nước ngoài trợ cấp. Nó xác định chủ thể uỷ nhiệm nước ngoài bao gồm: chính quyền nước ngoài, đảng chính trị, tập đoàn, thực thể hay các các cá nhân được luật quy định, hay có một vị trí trọng yếu trong công tác của một quốc gia nước ngoài.

 

Đạo luật FARA nhằm hạn chế ảnh hưởng của các tuyên truyền viên ngoại quốc thông qua yêu cầu:

 

  • Tất cả các đại diện của chủ thể uỷ nhiệm nước ngoài phải đăng ký với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ tên, địa chỉ và các khách hàng ngoại quốc ;
  • Bất kỳ tài liệu hay thông tin mà các đại diện nước ngoài phổ biến phải được công bố rõ ràng, minh bạch; và
  • Các đại diện nước ngoài phải có một bản báo cáo đầy đủ về tất cả các cuộc tiếp xúc vận động hành lang đã thực hiện, ngày tháng của những cuộc tiếp xúc đó, tiền thù lao đã nhận được và cả các quỹ đã chi tiêu, các chủ đề đã thảo luận và với ai, về vấn đề gì và những vấn đề này phải được công khai với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

 

Đạo luật FARA được lập ra nhằm chống lại những ảnh hưởng của các tổ chức tuyên truyền nước ngoài, không qua hạn chế sự phổ biến những thông tin nhất định, mà là bằng việc xác định đây là việc các đại diện nước ngoài được chi trả và được trợ cấp. Các cuộc giao tiếp của các đại diện nước ngoài có ý định gây ảnh hưởng tới cách chính sách buộc phải có một báo cáo về tên và địa chỉ của đại diện nước ngoài và các lợi ích của người nước ngoài khi xúc tiến các cuộc giao tiếp có tính chính trị.

 

Đạo luật FARA được sửa đổi vài lần vào những năm 1950 và 1960. Sửa đổi quan trọng nhất là vào năm 1966, khi Quốc hội thay đổi khởi điểm của FARA từ một công cụ chống tuyên truyền thành một công cụ luật pháp đối với các hoạt động lobby của dân chúng cũng như hoạt động lobby nghị viện, được thực hiện bởi các đại diện nước ngoài. Lúc ấy Quốc hội Hoa kỳ nhận thấy mối đe doạ lớn nhất không phải là từ phía những kẻ phản động nước ngoài cố gắng gây ảnh hưởng tới các chính sách về nước ngoài của Mỹ mà là từ phía các đối thủ nước ngoài cạnh tranh về mặt kinh tế cố gắng gây ảnh hưởng tới việc kinh doanh buôn bán của người Mỹ và các chính sách về thuế [8].

 

Đạo luật FARA, bao gồm các thành phần chống tuyên truyền, được các toà án thay đổi nhiều lần [9].

 

 

  1. Đạo luật liên bang về hoạt động lobby năm 1946

 

Ngay sau cuộc Đại chiến thế giới thứ 2, Quốc hội Hoa Kỳ đã phê chuẩn luật liên bang đầu tiên về công khai hoá vận động hành lang áp dụng cho các nhà vận động hành lang trong nước: Đạo luật liên bang về Vận động Hành lang (FRLA) năm 1946. Mục tiêu ban đầu của luật này là nhằm thiết lập một hệ thống đăng ký các nhà hoạt động lobby và công khai các nỗ lực của họ nhằm gây ảnh hưởng tới Quốc hội Mỹ. Giống như đạo luật FARA, đạo luật FRLA không cố gắng điều chỉnh cách thức chỉ đạo hoạt động lobby hay hoạt động tài chính của các nhà hoạt động lobby.

 

Đạo luật liên bang về hoạt động lobby đưa ra một  hệ thống đăng ký và công khai tài chính của những người muốn tạo ảnh hưởng tới lập pháp của Quốc hội Mỹ [10]. Mục đích của Đạo luật FRLA  là cung cấp thông tin cho công chúng về các áp lực chính trị ảnh hưởng tới lập pháp, và khẳng định việc các đại biểu dân cử thực hiện đầy đủ lý tưởng của nước Mỹ hay không phụ thuộc không nhỏ vào việc đánh giá chính xác các áp lực chính trị mà họ đang phải chịu.  Không có thông tin công khai này, “tiếng nói của người dân có thể bị nhấn chìm hoàn toàn bởi tiếng nói của những nhóm lợi ích đặc biệt tìm kiếm sự ủng hộ trong khi giả mạo là những người ủng hộ cho phúc lợi chung”[11].

 

Đạo luật FRLA yêu cầu bất kỳ người nào mà mục đích chính của họ là gây ảnh hưởng tới việc thông qua hay chống lại luật của Quốc hội Mỹ phải đăng ký với thư ký Quốc hội và Thư ký Thượng nghị viện và phải báo cáo tài chính hành quý. Các bản báo cáo tài chính yêu cầu phải có tên, và địa chỉ của người vận động hành lang cũng như tất cả các khách hàng nước ngoài; Số tiền mà nhà lobby nhận được; Toàn bộ những người đóng góp vào hoạt động lobby và con số đóng góp; Những chi phí phải được các nhà hoạt động lobby ghi thành từng khoản; Tất cả các ấn bản, ấn phẩm của những nhà lobby này; và quy chế đặc biệt mà nhà hoạt động lobby được chi trả nhằm gây ảnh hưởng. Sự vi phạm các yêu cầu của việc thông báo, báo cáo này có thể sẽ bị chịu mức phạt lên tới 5000$ hoặc một năm tù hay cấm hoạt động lobby trong vòng 3 năm.

 

Đạo luật FRLA được xem xét rộng rãi như một dự thảo luật nghèo nàn và không có tính hiệu quả. Chỉ hai năm sau khi tổng thống Hary Truman ký thông qua luật, ông đã kêu gọi chỉnh sửa để làm cho luật này hiệu quả hơn. Vài điểm yếu của đạo luật này là không bao gồm các thành viên Quốc hội hay các uỷ viên ban chấp hành cũng không có nhiều các hoạt động lobby dân chúng. Quan trọng hơn nữa là, trong khi đạo luật FRLA yêu cầu những bản báo cáo chi phí được ghi thành từng khoản, thì nó lại không yêu cầu công khai những khoản mà công chúng cần biết nhất về các hoạt động lobby: tất cả hết bao nhiêu và cho mục tiêu chính trị nào. Hơn thế, luật này quy định rất mơ hồ về việc ai phải thực sự đăng ký. Nó không hề làm rõ được nhân tố cốt lõi nào định ra “mục đích chính” của hoạt động lobby.

 

Vậy nên vấn đề khó giải quyết là việc thi hành luật. Thư ký Quốc hội Mỹ và Thư ký Thượng nghị viện thấy rằng tại thời điểm mà quy tắc của họ đã phục vụ như một kho chứa thông tin, không phải thanh tra các sai phạm, và ép phải thi hành. Bộ Tư pháp Mỹ cũng quyết định rằng sẽ tập trung khuyến khích tình nguyện thực thi luật bằng cách cảnh báo những vi phạm tiềm tàng hơn là truy tố việc không thi hành luật.[12]

 

Đạo luật FRLA bị làm cho mất hiệu lực khi Toà Án tối cao Mỹ thu hẹp phạm vi giới hạn của nó. Quan trọng hơn là toà án đã ủng hộ việc chính phủ liên bang nắm quyền điều chỉnh việc công khai và về một mức độ nào đó là điều chỉnh cả việc tiến hành hoạt động lobby theo đạo luật lobby (United States v.Harriss)[13]. Tuy nhiên, toà án cũng thu hẹp việc áp dụng luật nhằm tránh làm trái hiến pháp bởi bản phác thảo qua quýt. Không có quy tắc thoả đáng về hoạt động lobby thường xuyên, toà án quyết định luật này chỉ được áp dụng đối với những nhà lobby “được chi trả” vì hoạt động lobby của họ, “những người giao tiếp trực tiếp” với thành viên của Quốc hội về “dự thảo luật sắp được ban hành”. Thế nên, toà án giải thích luật này chỉ bao hàm những nỗ lực nhằm gây ảnh hưởng tới việc thông qua luật hay chống lại các dự luật đặc biệt, và chỉ áp dụng đối với những nỗ lực được trả công, mà trong đó những nhà hoạt động lobby đã tiếp xúc trực tiếp với thành viên của Quốc hội, không phải nhân viên của họ. Những cá nhân dành ít hơn một nửa quỹ thời gian của họ cho việc tiếp xúc trao đổi với  thành viên Quốc hội về  việc lập pháp được miễn báo cáo.

 

Một nghiên cứu năm 1991 của Cơ quan giải trình chính phủ Mỹ (GAO) không bao quát được các khe hở của luật[14] . Cơ quan này nhận thấy khoảng 10000 trong tổng số 13500 cá nhân và tổ chức được liệt kê  trong một cuốn sách đã được phép xuất bản, Niên giám Đại biểu Washington như là những kẻ ngồi lê đôi mách có ảnh hưởng chủ yếu tới Quốc hội Mỹ, thì lại không được đăng ký như những nhà hoạt động lobby. Nghiên cứu của tổ chức GAO kết luận rằng các nhà hoạt động lobby công khai các báo cáo không hoàn toàn là ghê ghớm. Nó nhận thấy rằng: 60 % các nhà hoạt động lobby đã đăng ký không thông báo các hoạt động tài chính; 90 % không thông báo chi phí về tiền công, tiền lương, phí hay hoa hồng; 95% không thông báo về các mối quan hệ công chúng hay chi phí quảng cáo; và chỉ 32 % người thông báo mục cụ thể hay số hoá đơn hợp pháp.

 

  1. Các luật công khai sửa đổi và tổng hợp Byrd

 

Năm 1989, Sen. Robert Byrd (D-Q-Va,) đưa ra một sự bổ sung  cho một dự luật về sự chiếm đoạt nội bộ, nghiêm cấm bất kể một thực thể, cá nhân nào sử dụng ngân quỹ của chính phủ để gây tác động tới việc chi trả hợp đồng của liên bang, tiền trợ cấp hay các khoản vay mượn[15]. Tuy nhiên, cá nhân người nhận quà biếu của ngân sách chính phủ có thể dùng các quỹ phi chính phủ để gây ảnh hưởng tới việc chi trả các hợp đồng, các khoản trợ cấp hay các khoản vay, nhưng thực thể, cá nhân bị yêu cầu phải công khai hoạt động lobby này. Các điều lệ liên bang thực thi sự sửa đổi Byrd yêu cầu phải công khai hoá mỗi tiếp xúc của thực thể, cá nhân với một quan chức liên bang thông qua nhà hoạt động lobby bên ngoài để gây ảnh hưởng tới một quyết định chi trả. Nhà hoạt động lobby bên trong (in-house lobbists) và những người làm thuê cho khách hàng được miễn thi hành luật sửa đổi Byrd.

 

Khi nhận được hay có yêu cầu về hợp đồng, tiền trợ cấp hay vốn vay, phải đệ trình công khai các báo cáo  với cơ quan khen thưởng. Cơ quan này soạn thảo những báo cáo này và đệ trình chúng lên Chủ tịch Hạ Viện Mỹ và Chủ tịch Thượng viện 2 năm một lần. Giám sát việc tuân thủ này là trách nhiệm của cơ quan khen thưởng và việc thi hành luật chống vi phạm là trách nhiệm của Bộ Tư pháp dưới đạo luật về chống lừa gạt dân sựHanH

 

Tương tự, những công nhân viên chức của liên bang Mỹ cũng bị nghiêm cấm hoạt động lobby bằng tiền tham ô, tham nhũng [16]. Sự hạn chế được Bộ Tư pháp Mỹ làm rõ nhằm ngăn cấm “hoạt động lobby dân chúng”--Những chiến dịch mà dân chúng được khuyến khích tiếp xúc với các thượng nghị sỹ hay các đại biểu. Những quy tắc, luật lệ ít giới hạn hơn một chút áp dụng với các thành viên nội các và các thượng nghị sỹ khác— phê chuẩn các công chức làm việc trong phạm vi trách nhiệm của họ. Sự hướng dẫn của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cho phép các công chức liên bang thực hiện những việc sau:

  • Tiếp xúc với các thành viên và nhân viên của họ bằng việc hỗ trợ công tác hành chính hay thực hiện các công tác của họ.
  • Tiếp xúc với quần chúng thông qua các bài phát biểu trước công chúng hay các ấn bản.
  • Tiếp xúc riêng với các cá nhân công chúng, với điều kiện là những cuộc tiếp xúc này không nằm trong chiến dịch lobby công chúng; và
  • Hoạt động lobby Quốc hội hay công chúng về các vấn đề ngoài lập pháp và các vấn đề về sự chiếm hữu, chẳng hạn như việc đề xuất, bổ nhiệm và ký kết hiệp ước.

 

Trong những năm qua, các đại diện riêng chấp nhận các yêu cầu cụ thể và đa dạng đối với đại diện về lĩnh vực vận động hành lang. Chẳng hạn, Cục Nhà đất và Phát triển Đô thị Mỹ đã áp đặt những yêu cầu về công khai đối với những cá nhân dùng các khoản chi tiêu để gây ảnh hưởng tới việc ra quyết định của các quan chức của sở này, bao gồm các quyết định gây ảnh hưởng tới tình hình trợ giúp của cục[17]. Những yêu cầu của việc thông báo tương tự được thiết lập cho các hoạt động lobby cục Quản lý Nhà của nông dân và các đại diện khác.

 

Đạo luật công khai hoá hoạt động lobby năm 1995

 

Sau 50 thất bại trong nỗ lực lấp nhiều lỗ hổng của đạo luật năm 1946, đến năm 1995 Quốc hội Mỹ cuối cùng cũng thành công trong việc lấp các lỗ hổng này và đã phê chuẩn Đạo luật về công khai hoạt động lobby (LDA)[18] sâu rộng và công bằng. Đạo luật LDA cho thấy một nỗ lực đáng kể nhằm tạo ra một hệ thống hiệu quả công khai hoạt động lobby, đặc biệt là khi so sánh nó với các nỗ lực điều chỉnh trước đó[19]. Tuy nhiên, như đã được thảo luận dưới đây, đạo luật LDA cũng đã có một vài khía cạnh thiếu sót.

Sau nhiều thập kỷ Quốc hội Mỹ miễn cưỡng sửa đổi luật về hoạt động lobby năm 1946, thực tế là nó đã được nhận định một cách rộng rãi như một thất bại trong việc đạt được mục đích của việc đăng ký và công khai công chúng về các cấp bậc quan trọng và hoạt động tài chính của  các nhà lobby liên bang.

Tới giữa những năm 1990, một vài sự ép buộc cũng đã có hiệu lực. Đầu tiên và trước hết, Quốc hội Mỹ đã bị quấn trong một trường hợp giật gân liên quan tới vài phi vụ tham nhũng của thành viên Quốc hội, như vụ Wedtech. Vào năm 1987, Tiểu ban Giám sát việc Quản lý của chính quyền liên bang Mỹ đã điều tra các hoạt động không hợp lệ của quyết định trong những hợp đồng của liên bang với tập đoàn Wedtech[20]. Tiểu ban này phát hiện Wedtech đã thuê một lượng lớn các chuyên gia lobby, bao gồm một số các cựu thành viên Quốc hội Mỹ, và thậm chí có liên quan tới việc đút lót các quan chức chính phủ. Cuộc điều tra đã nêu bật tính không đầy đủ của những luật về hoạt động lobby, thúc đẩy tiểu ban này triệu tập các buổi điều trần về các vấn đề về đăng ký và báo cáo hoạt động lobby vào năm 1991.

Cuộc điều trần này là nguồn gốc ra đời của đạo luật LDA, Sen. Carl Levin (D-Mich) giới thiệu phiên bản đầu tiên của đạo luật vào năm 1992. Dự luật được sửa lại và giới thiệu lại vài lần trong các kỳ họp sau của Quốc hội. Dự luật này càng nhận được sự ủng hộ khi xuất hiện thêm những vụ scandal khác trong Quốc hội, tập trung vào một số ít các nhà lãnh đạo đảng dân chủ. Các đảng viên đảng cộng hoà đã tham gia vào một chiến dịch tẩy chay Quốc hội và ưu tiên thực hiện công khai hoạt động lobby. Dự luật LDA cuối cùng đã được soạn thành luật vào năm 1995 với sự lãnh đạo chủ yếu của lưỡng đảng.

 

LDA thay thế phần lớn các chắp vá trước đó của luật công khai vận động hành lang bằng một đạo luật thống nhất và duy nhất quy định toàn bộ các hoạt động của các nhà vận động hành lang chuyên nghiệp. Nó kết hợp rất nhiều  các điều khoản quan trọng của FARA, Đạo luật sửa đổi Byrd và quy định liên bang về hoạt động lobby vào một đạo luật duy nhất và cải tiến các định nghĩa, phạm vi điều chỉnh cũng như các yêu cầu về báo cáo.

LDA có một số cải tiến cụ thể như sau:

  • Làm rõ các khái niệm then chốt phải điều chỉnh. Chẳng hạn, các định nghĩa về người lobby và hoạt động lobby chịu sự điều chỉnh của luật trước kia rất mơ hồ đến nỗi ngay cả các tòa án cũng không biết luật này áp dụng đối với những ai.
  • Lượng hóa cụ thể thời gian báo cáo và đăng ký hoạt động lobby, và yêu cầu các tổ chức, cá nhân hoạt động lobby báo cáo hoạt động tài chính mỗi năm hai lần.
  • Sửa đổi các yêu cầu về báo cáo đối với các cá nhân hoạt động lobby đại diện cho các lợi ích của nước ngoài. Theo LDA, các cá nhân lobby đại diện cho chính phủ nước ngoài hay các chính đảng nước ngoài phải tiếp tục đăng ký theo Luật Đăng Ký đại diện nước ngoài và không cần đăng ký theo luật LDA. Các cá nhân lobby cho các lợi ích cá nhân của nước ngoài có thể đăng ký theo LDA và không cần đăng ký theo FARA.

Tuy nhiên, luật lobby của chính phủ liên bang lại có một số hạn chế rất quan trọng cụ thể như sau:

  • Công khai chưa triệt để: Cho dù LDA yêu cầu Chủ tịch thượng và hạ viện Mỹ triển khai các hệ thống tin học hóa thiết kế để giảm thiểu gánh nặng đơn từ và tối đa hóa sự tiếp cận của công chúng tới các nguồn tư liệu, thì các bản báo cáo tài chính những nhà lobby được soạn và đệ trình dưới dạng bản viết, và khả năng tiếp cận của công chúng với các báo cáo này vẫn không thể nói là đủ. Hệ thống công khai hóa có thể được dễ dàng cải thiện và cải thiện rất nhiều bằng việc thực hiện một hệ thống báo cáo tài chính hoạt động lobby bằng điện tử có thể download được và lọc được, dễ dàng tìm kiếm giống như Ủy ban Bầu Cử Liên bang đã làm với các bản ghi tài chính vận động tranh cử.
  • Thực thi chưa triệt để: Một hạn chế nữa của LDA là thiếu sự giám sát thực hiện và áp dụng luật đối với những trường hợp vi phạm. Không có cơ quan nào được quyền thực thi các quyền lực của LDA. Chủ tịch Hạ viện và chủ tịch Thượng viện có trách nhiệm riêng rẽ trong việc thu thập các báo cáo tài chính của hoạt động lobby. Nhưng cả hai cơ quan này đều không có trách nhiệm cụ thể đảm bảo các báo cáo gửi tới họ là đầy đủ và chính xác. Các cơ quan khác của Quốc hội cũng không có chức năng thực thi luật này. Nếu họ cho rằng một nhà hoạt động lobby liên tục vi phạm quy trình báo cáo thì họ có thể yêu cầu Bộ Tư pháp điều tra vụ việc. Nhưng trường hợp này thường là rất hiếm.
  • Điều chỉnh hành vi chưa triệt để: Nhiều hoạt động lobby ngày nay đặt ra các vấn đề đáng quan tâm: các cựu quan chức trở thành các nhà lobby vì những lợi ích đặc biệt, các thành viên gia đình của các nhà lập pháp lại làm người lobby, việc các nhà lobby tặng quà cáp và đóng góp cho các chiến dịch vận động cho những quan chức hàng đầu của các cơ quan chính quyền liên bang. Vẫn cần phải có thêm nhiều cải cách nữa về lập pháp để điều chỉnh tốt hơn hành vi lobby.

 

 

 

 

 

 

Chú thích



[1] Sen. Carl Levin, Hearing on S. 2279, Tiểu ban Thượng viện về Quản lý của Chính phủ, Uỷ ban về các vấn đề của Chính phủ, Washington, D.C. (Mar. 26, 1992)

[2] Hiệp định về thuộc địa đầu tiên của Hoa Kỳ đưa vào Luật quyền gửi đơn đó là Quyền Tự do cá nhân do Quốc hội Massachusetts ban hành năm 1641. Nó được nhắc lại trong nhiều bản Tuyên bố, luật trước cuộc Cách mạng, trong đó có Luật về Con dấu. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Thomas Jefferson viết: “trong trường hợp bị áp bức, chúng ta có quyền khiếu kiện để được chỉnh sửa, khiếu kiện tiếp tục của chúng ta nếu trước đó chưa được phúc đáp.” Đoạn 30 của Tuyên ngôn Độc lập (1776). Tám trong số 12 bang độc lập tiếp theo đã chấp nhận quyền này trong Hiến pháp. Quyền khiếu kiện Chính phủ sửa chữa những sai lầm” kết có trong Luật về các Quyền được sửa chữa lần thứ nhất. Stacie Fatka và Jason Miles Levien, “Bảo vệ quyền được khiếu kiện: Tại sao việc cấm chi phí cho lobby lại vi phạm Hiến pháp”, 35 Harvard Journal on Legislation (1998) at 563.

[3] Raymond Bailey, Tác động Thông thường đến Chính sách Công: Khiếu kiện trong thế kỷ 18 ở Virginia (1979) at 29-31.

[4] Thuật ngữ “người vận động hành lang” - “lobbyist” xuất hiện từ thời Tổng thống Ulysses S. Grant. Trong khoá làm Tổng thống đầu tiên của Grant’s, vợ ông đã không ủng hộ ông uống rượu, ông thường phải lẻn ra khỏi Nhà Trắng đến quán Willard Hotel trên phố của Washington, D.C. Việc Grant’s đến quán Willard Hotel sau đó được người ta biết đến nhiều. Những ai muốn tranh thủ đưa kiến nghị của mình lên Tổng thống có thể đến góc mà Grant tới hoặc gặp được ông trên tiền sảnh. Thất vọng vì số lượng đông người khiếu kiện như vậy, Grant thường phàn nàn  “những người vận động hành lang” tiếp cận ông cách đó. Ron Smith, “Cái giá Minh bạch Bắt buộc của Kinh nghiệm Vận động Hành lang từ Cơ sở,” Tạp chí Luật và Chính sách Công số 6  (1997) at 115.

[5] Fatka và Levien, op.cit. at 569.

[6] Như trên.

[7] Michael Spak, “Mỹ trên thị trường: Khi nào một cựu quan chức Liên bang có được ảnh hưởng cao nhất,” Tạp chí Luật Kentucky số 78 (1990) at 242-243.

[8] Mark Baker, “Cập nhật Luật Đăng ký Chủ thể Nước ngoài để để Giải quyết Thách thức về Kinh tế và An ninh Quốc gia,” Tạp chí Luật Quốc tế Texas số 25 (1990) at 24.

[9] Xem, thí dụ Meese v. Keane, 481 U.S. 465 (1987).

[10] Mục 308 của Luật quy định: “(a) Người nào liên quan đến việc được trả công nhằm tác động đến việc việc thông qua hoặc bãi bỏ bất cứ dự luật nào của Nghị viện Hoa Kỳ thì trước khi xúc tiến công việc phải đăng ký trước Ban Thư ký Thượng Nghị viện và Ban Thư ký Hạ Nghị viện và chuyển cho những quan chức trên văn bản với lời thề, họ tên và địa chỉ của người đó, họ tên và địa chỉ người thuê họ và họ tên, địa chỉ người mà họ làm việc cho, khoảng thời gian được thuê, số tiền được trả và sẽ nhận, ai sẽ đến trả tiền cho người đó, chi phí cho việc đó, và các các chi phí khác bao gồm trong đó . . . .”

[11] United States v. Harriss, 347 U.S. 612 (1954) at 625.

[12] S. Rep. No. 99-161 (1986) at 51-52.

[13] Mỹ chống lại Harriss, 347 U.S. 612 (1954). Trong những nguyên tắc về sau, Toà án Tối cao Mỹ đã xác định rõ vận động hành lang là một cách thức để có những chính kiến đến tới Chính phủ và vì thế, được Hiến pháp bảo hộ. Đồng thời xem, Hội nghị những Chủ tịch tập đoàn Xe lửa miền Đông chống lại Hãng Chuyên chở Mô-tô Noerr, 365 U.S. 127 (1961) [nhóm vận động hành lang cơ sở đòi quyền được lĩnh lương].  

[14] Văn phòng Kế toán, “Vận động hành lang của Liên bang: Quy định của Liên bang về Đạo Luật Vận động Hành lang năm 1946 không còn hiệu lực.” (Tháng 7, 1991). Trong báo cáo, Văn phòng Kế toán đã phỏng vấn một số người Dân biểu Washington và thấy được 75% có mối quan hệ với thành viên của Quốc hội và nhân sự của họ, tham gia vào quá trình lập pháp, và tìm cách gây ảnh hưởng đến Quốc hội hoặc Ban hành pháp. 

[15] 31 U.S.C. 1352.

[16] 18 U.S.C. 1913.

[17] 42 U.S.C. 3537b.

[18] 2 U.S.C. 1601.

[19] Một trong những nhà ủng hộ hành đầu của Đạo luật về Công khai hoá Hoạt động Hành lang năm 1995, Thượng Nghị sỹ Carl Levin (D-Mich.) đã kiểm chứng trước Uỷ ban Tư pháp rằng “thập kỷ liên tiếp thập kỷ, Quốc hội Hoa Kỳ đã nỗ lực rất nhiều để hoàn thiện những kẽ hở trong quá trình ra Luật đăng ký vận động hang lang, nhưng nỗ lực đó hoàn toàn thất bại. Quốc hội này có cơ hội để thay đổi” Lắng nghe từ Uỷ ban Tư pháp, Thẩm tra Đạo luật về Công khai hoá Hoạt động Hành lang, và Lời chứng thực của Thượng Nghị sỹ Carl Levin, tháng 9 ngày 7, 1995.

[20] Xem thêm Ủy ban Thưọng viện về những vấn đề nội bộ của Chính phủ, Đạo luật về Công khai hoá Hoạt động Hành lang 1993, S. Rep. No. 37 (1993).